Mục tiêu 6: Đảm bảo khả năng tiếp cận nước và vệ sinh cho tất cả mọi người
Tiếp cận với nước sạch, vệ sinh và vệ sinh cá nhân là nhu cầu cơ bản nhất của con người để duy trì sức khỏe và phúc lợi. Nhu cầu về nước ngày càng gia tăng do sự tăng trưởng dân số nhanh chóng, đô thị hóa, cũng như nhu cầu ngày càng lớn từ nông nghiệp, công nghiệp và các ngành năng lượng.
Tốc độ gia tăng nhu cầu về nước đã vượt xa tốc độ tăng dân số. Tình trạng căng thẳng về nước toàn cầu duy trì ở mức 18% kể từ năm 2015, với cứ 10 người thì có 1 người đang sống trong tình trạng căng thẳng cao hoặc nghiêm trọng, và tại một số khu vực, mức độ này vượt quá 75%. Tình trạng khan hiếm nước được dự báo sẽ gia tăng cùng với sự nóng lên toàn cầu do biến đổi khí hậu.
Đầu tư vào hạ tầng và cơ sở vệ sinh; bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái liên quan đến nước; cùng với giáo dục về vệ sinh, là những bước đi cần thiết để bảo đảm khả năng tiếp cận phổ cập nguồn nước uống an toàn và giá cả phải chăng cho tất cả mọi người vào năm 2030. Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng là chìa khóa để giảm căng thẳng về nguồn nước.
Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ không đạt được quản lý bền vững tài nguyên nước trước năm 2049, và để đạt được mục tiêu phổ cập dịch vụ thiết yếu về nước, vệ sinh và vệ sinh cá nhân (WASH) trong các trường học vào năm 2030, cần phải tăng gấp đôi tốc độ tiến bộ hiện nay.
Đã có một số tiến bộ tích cực: từ năm 2015 đến 2024, tỷ lệ dân số thế giới được tiếp cận nước uống an toàn đã tăng từ 68% lên 74%.
Vì sao điều này quan trọng?
Tiếp cận nước, vệ sinh và vệ sinh cá nhân là một quyền con người cơ bản. Để quay trở lại đúng lộ trình, các chiến lược chủ chốt bao gồm:
Tăng cường đầu tư và xây dựng năng lực toàn ngành,
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hành động dựa trên bằng chứng,
Nâng cao phối hợp liên ngành và hợp tác giữa các bên liên quan,
Thực hiện cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện hơn trong quản lý tài nguyên nước.
Nước không chỉ thiết yếu cho sức khỏe, mà còn là nền tảng cho xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, hòa bình, quyền con người, hệ sinh thái và giáo dục.
Tuy nhiên, các quốc gia đang đối mặt với những thách thức ngày càng lớn liên quan đến khan hiếm nước, ô nhiễm nước, suy thoái hệ sinh thái liên quan đến nước và vấn đề hợp tác trong quản lý các lưu vực sông xuyên biên giới.
Những thách thức hiện nay
Năm 2024, có 2,2 tỷ người vẫn thiếu nước uống an toàn.
3,4 tỷ người thiếu dịch vụ vệ sinh an toàn.
1,7 tỷ người thiếu các dịch vụ vệ sinh cá nhân cơ bản tại hộ gia đình.
Việc quản lý bền vững nguồn nước cũng đồng nghĩa với việc quản lý tốt hơn sản xuất lương thực, năng lượng, góp phần vào việc làm bền vững và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, điều này giúp bảo tồn hệ sinh thái nước, đa dạng sinh học và tăng cường hành động ứng phó biến đổi khí hậu.
Nước và biến đổi khí hậu có liên quan như thế nào?
Khả năng tiếp cận nước đang ngày càng trở nên khó dự đoán tại nhiều nơi. Ở một số khu vực, hạn hán làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm nước, tác động tiêu cực đến sức khỏe, năng suất lao động, đồng thời đe dọa phát triển bền vững và đa dạng sinh học toàn cầu.
Bảo đảm mọi người đều có thể tiếp cận dịch vụ nước và vệ sinh bền vững là một chiến lược quan trọng để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu trong những năm tới.
Nếu không có cơ sở hạ tầng và quản lý tốt hơn, hàng triệu người sẽ tiếp tục tử vong mỗi năm vì các bệnh liên quan đến nước như sốt rét và tiêu chảy, đồng thời đa dạng sinh học và khả năng chống chịu của hệ sinh thái sẽ tiếp tục suy giảm, ảnh hưởng đến thịnh vượng và nỗ lực phát triển bền vững.
Chúng ta có thể làm gì?
Tổ chức xã hội dân sự: Giám sát và buộc các chính phủ thực hiện cam kết, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển liên quan đến nước, thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ, thanh niên và cộng đồng bản địa trong quản trị tài nguyên nước.
Người dân và cộng đồng: Nâng cao nhận thức, biến hiểu biết thành hành động sẽ tạo ra lợi ích kép – bền vững hơn cho cả hệ sinh thái và xã hội loài người.
Tham gia toàn cầu: Hưởng ứng các chiến dịch như Ngày Nước Thế giới và Ngày Nhà vệ sinh Thế giới, nhằm cung cấp thông tin và truyền cảm hứng để hành động vì các vấn đề vệ sinh và nước sạch.
Bất chấp những tiến bộ đáng kể, hàng tỷ người vẫn thiếu khả năng tiếp cận nước uống an toàn, dịch vụ vệ sinh và vệ sinh cá nhân. Để đạt được bao phủ phổ cập vào năm 2030, cần phải tăng tốc đáng kể so với tốc độ tiến bộ toàn cầu hiện nay.
Năm 2022, khoảng một nửa dân số thế giới phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng trong ít nhất một phần của năm. Một phần tư dân số toàn cầu phải chịu mức căng thẳng về nước “cực kỳ cao”. Biến đổi khí hậu đang làm trầm trọng thêm những vấn đề này, đe dọa trực tiếp đến ổn định xã hội.
Các chiến lược then chốt để đưa Mục tiêu 6 trở lại đúng lộ trình bao gồm: tăng cường đầu tư và nâng cao năng lực toàn ngành, thúc đẩy đổi mới và hành động dựa trên bằng chứng, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác giữa tất cả các bên liên quan, đồng thời áp dụng cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện hơn trong quản lý tài nguyên nước.
Chỉ 0,5% lượng nước trên Trái Đất là nước ngọt có thể sử dụng được và sẵn có cho con người.
Dự báo đến năm 2050, dân số đô thị toàn cầu phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng gấp đôi, từ 930 triệu người năm 2016 lên 1,7 – 2,4 tỷ người.
Dù đã có tiến bộ, vào năm 2024 vẫn còn:
2,2 tỷ người thiếu dịch vụ nước uống an toàn được quản lý;
3,4 tỷ người thiếu dịch vụ vệ sinh an toàn được quản lý;
1,7 tỷ người thiếu dịch vụ vệ sinh cá nhân cơ bản tại hộ gia đình.
Ô nhiễm nước tiếp tục là thách thức lớn đối với sức khỏe con người và môi trường tại nhiều quốc gia.
6.1 Đến năm 2030, đạt được khả năng tiếp cận phổ cập và công bằng với nguồn nước uống an toàn và giá cả phải chăng cho tất cả mọi người.
6.2 Đến năm 2030, đạt được khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với dịch vụ vệ sinh và vệ sinh cá nhân cho tất cả mọi người, chấm dứt việc đi vệ sinh ngoài trời, đặc biệt chú trọng đến nhu cầu của phụ nữ, trẻ em gái và những người trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương.
6.3 Đến năm 2030, cải thiện chất lượng nước bằng cách giảm ô nhiễm, loại bỏ hành vi xả thải, giảm thiểu việc thải ra các hóa chất và vật liệu nguy hại; giảm một nửa tỷ lệ nước thải chưa qua xử lý; và tăng đáng kể tái chế, tái sử dụng an toàn trên phạm vi toàn cầu.
6.4 Đến năm 2030, tăng đáng kể hiệu quả sử dụng nước trên tất cả các lĩnh vực, bảo đảm khai thác và cung cấp nước ngọt bền vững để giải quyết tình trạng khan hiếm nước, đồng thời giảm đáng kể số người chịu ảnh hưởng của tình trạng này.
6.5 Đến năm 2030, thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở tất cả các cấp, bao gồm cả hợp tác xuyên biên giới khi cần thiết.
6.6 Đến năm 2020, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái liên quan đến nước, bao gồm núi, rừng, vùng đất ngập nước, sông, tầng ngậm nước và hồ.
6.A Đến năm 2030, mở rộng hợp tác quốc tế và hỗ trợ tăng cường năng lực cho các quốc gia đang phát triển trong các hoạt động và chương trình liên quan đến nước và vệ sinh, bao gồm thu gom nước, khử mặn, sử dụng nước hiệu quả, xử lý nước thải, tái chế và công nghệ tái sử dụng.
6.B Hỗ trợ và tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc cải thiện quản lý nước và vệ sinh.
Lưu ý:
Bài viết được dịch trực tiếp từ website chính thức của The Sustainable Development Goals (SDGs). Chúng tôi dịch ra tiếng Việt để giúp người Việt Nam dễ hiểu hơn thông tin này. Trang thông tin gốc: https://www.un.org/sustainabledevelopment/



